Vào mùa đông, chúng ta ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hơn. Điều này sẽ khiến cho cơ thể không hấp thu được nhiều vitamin D, hệ miễn dịch suy giảm, khiến nguy cơ mắc chứng sổ mũi và cảm cúm tăng cao. Vì thế, các bạn hãy bổ sung vitamin D và các chất cần thiết bằng cách tích cực uống sữa mỗi ngày. Phương pháp này có thể giúp chúng ta phòng tránh được các chứng bệnh trên, đồng thời còn giúp tăng cường sức đề kháng.
Trong sữa không béo chứa rất ít calo nhưng lại có khá nhiều vitamin D. Đó là một loại thực phẩm rất tốt cho chúng ta trong mùa đông. Vì thế, hãy tăng cường uống sữa không béo mỗi ngày nhé!
Đun sữa đúng cách
Vào mùa đông, thời tiết thường lạnh hơn rất nhiều, các bạn nên đun sữa trước khi sử dụng để tránh bị lạnh và đảm bảo sức khỏe. Tuy nhiên, các bạn cũng cần lưu ý, đun sữa cũng cần phải làm đúng cách để tránh tình trạng biến chất, mất các chất quan trọng…
Đối với sữa tươi đóng hộp, các bạn chỉ cần thả hộp sữa vào nước nóng ngâm khoảng 15 phút trước khi sử dụng. Với các loại sữa tươi thông thường, cách tốt nhất là đun cách thủy. Làm như vậy sẽ giúp chúng ta giữ được các chất quan trọng có trong đó, tránh tình trạng protein bị cháy khét. Đặc biệt, các bạn chỉ nên đun đến khi sữa vừa sôi, tránh đun quá lâu vì như vậy sẽ khiến các chất quan trọng trong sữa bị mất đi. Tránh để sữa vừa đun sôi vào phích
Khi đun sôi, nhiệt độ của sữa rất cao. Nếu chúng ta đổ ngay vào phích sẽ khiến sữa bị biến chất, dễ bị chua và lên men. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng của sữa. Đặc biệt, khi uống phải, các bạn có thể bị đau bụng, đi ngoài, tiêu chảy…, thậm chí còn có thể bị đau dạ dày. Vì thế, sau khi đun sữa, các bạn nên dùng hết, tránh cho vào phích hoặc bình giữ nhiệt.
Cách bảo quản sữa trong mùa đông
Để bảo quản sữa được đảm bảo, kể cả trong mùa đông, các bạn nên giữ trong tủ lạnh. Nguyên nhân là do sữa rất dễ bị lên men. Kể cả khi nhiệt độ ngoài trời rất thấp, các vi khuẩn vẫn có thể xâm nhập và làm sữa bị chua. Ngoài ra, chúng mình cũng cần chú ý, tránh lưu giữ sữa đã được đun sôi trong thời gian quá lâu. Cách tốt nhất là sử dụng hết sau mỗi lần đun nhé!
Nếu móng tay bạn có những triệu chứng dưới đây thì bạn nên tới bác sĩ để kiểm tra sức khoẻ tổng thể nhé!
Móng tay có đốm trắng hoặc vàng
Khi móng tay có những dấu hiệu này, rất có thể bạn đã nhiễm một loại nấm nào đó. Đây cũng là triệu chứng của rối loạn tuyến giáp, lúc này bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ và sử dụng thuốc mỡ bôi đặc trị để làm giảm tình trạng này.
Móng tay có nhiều đốm vàng cũng thường xảy ra ở những người nghiện thuốc lá hoặc đang dùng thuốc mỡ kháng sinh tetaxilin để điều trị bệnh.
Móng tay dễ nứt, gẫy
Nguyên nhân gây ra tình trạng nứt, gẫy móng tay có thể là do bạn thường xuyên sơn móng tay và dùng các chất tẩy rửa khiến móng trở nên yếu dần.
Đặc biệt, nếu bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, thì nhiều khả năng dấu hiệu móng tay dễ nứt, gẫy này báo hiệu bạn đang bị rối loạn tuyến giáp.
Màu sắc của móng tay có thể cảnh báo dấu hiệu bệnh tật.
Móng tay có màu xanh nhạt
Móng tay có tình trạng này đang báo hiệu bạn đang bị nhiễm trùng bên trong cơ thể. Khi bị nhiễm trùng ở bộ phận nào, bạn thường có thêm các triệu chứng khác như đau và sưng.
Ngoài ra, đây cũng là dấu hiệu cơ thể bạn không nhận đủ oxy hoặc có vấn đề về tim mạch. Trong trường hợp này, bạn không nên tự điều trị bằng bất kì loại thuốc nào khi chưa có ý kiến của bác sĩ.
Móng tay xuất hiện các điểm đen hoặc nâu sọc thẳng
Nếu dưới móng tay xuất hiện các điểm đen thì đấy có thể là dấu hiệu của sự rối loạn hormone trong cơ thể. Nghiêm trọng hơn, đây có thể là triệu chứng của một khối u ác tính (liên quan đến căn bệnh ung thư da) rất nguy hiểm. Bạn cũng nên đề phòng nếu duới móng tay xuất hiện các sọc thẳng, đây là dấu hiệu của những bệnh nghiêm trọng như: bệnh thiếu máu; bệnh suy tim sung huyết; bệnh gan; suy dinh dưỡng.
Móng tay có các đường lằn ngang
Đây là triệu chứng của sự thiếu hụt dinh dưỡng (thường là thiếu chất sắt) hoặc là kết quả của chấn thương – về thể chất hoặc tinh thần. Bác sĩ sẽ cần tìm hiểu cụ thể những nguyên nhân này của bạn để có kế hoạch điều trị tốt nhất.
Chết đuối là tình trạng thiếu oxy do cơ thể bị chìm trong nước. Người ta thống kê thấy khoảng 4/5 trường hợp chết đuối mà trong phổi có nước và 1/5 còn lại chết đuối nhưng phổi không có nước. Người bị chìm trong nước nhưng không bị ngạt được cứu tỉnh kịp thời thì được gọi là suýt chết đuối.
Sở dĩ có tình trạng chết đuối mà trong phổi không có nước là do người không biết bơi bất ngờ bị chìm trong nước, nạn nhân hoảng sợ khiến các phản xạ bị rối loạn làm cơ thể bị chìm, phản xạ co cơ nắp thanh quản và đóng khí quản lại làm nạn nhân không thở được dẫn đến thiếu oxy não và bất tỉnh. Do nắp thanh quản bị đóng nên nước cũng không vào phổi được. Đó cũng được gọi là chết đuối khô.
Cấp cứu nạn nhân chết đuối:
- Khi thấy một người đang hốt hoảng trên mặt nước hãy nhanh chóng thảy cho họ bất cứ thứ gì có thể giúp họ bám vào và nổi lên được. Nếu chỉ có một mình và 2 tay không, nếu không phải là một nhân viên cấp cứu nhiều kinh nghiệm thì bơi ra cứu nạn nhân là điều rất mạo hiểm dù là một tay bơi giỏi vì trong cơn hoảng loạn cực độ, nạn nhân thường có khuynh hướng vùng vẫy, níu kéo rất chặt gây khó khăn cho người cấp cứu và có nguy cơ làm chết đuối luôn cả hai. Nên ném cho nạn nhân một phao nổi trước cho nạn nhân bám vào, sau đó mới cho nạn nhân bám vào ngưới cứu hộ.
- Sau khi đem nạn nhân lên bờ, hãy nhanh chóng gọi điện thoại số cấp cứu 115 và tiến hành làm hô hấp nhân tạo bằng phương pháp miệng qua miệng vì đó là phương pháp hữu hiệu nhất. Não người sẽ bị tổn thương hoặc chết nếu nạn nhân ngưng thở từ 4-6 phút.
Với ngạt nước, sơ cứu tại chỗ và đúng kỹ thuật là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến sự sống còn và khả năng bị di chứng não của người bị nạn.
- Trường hợp nạn nhân đã ngừng thở, ngừng tim thì nhanh chóng dốc ngược đầu nạn nhân cho nước trong đường thở thoát ra hết; sau đó đặt nạn nhân trên mặt phẳng cứng, ngửa cổ nạn nhân ra sau, móc hết đàm nhớt, dị vật trong miệng nạn nhân ra, một tay đặt lên trán nạn nhân, bịt mũi nạn nhân bằng bằng ngón trỏ và ngón cái, sau đó hít sâu, áp miệng người cấp cứu vào miệng nạn nhân thổi 2 hơi đầy; để lồng ngực tự xẹp và thổi tiếp lần thứ hai. Thực hiện cho đến khi nạn nhân thở được hoặc có xe cấp cứu đến.Nếu nạn nhân bị ngưng tim nên tiến hành xoa bóp tim ngoài lồng ngực song song với hô hấp nhân tạo.
- Đặt người bị nạn nằm ở chỗ khô ráo, thoáng khí. Nếu bất tỉnh, hãy kiểm tra xem có còn thở không bằng cách quan sát sự di động của lồng ngực. Nếu lồng ngực không di động tức là đã ngưng thở; thổi ngạt miệng qua miệng 2 cái chậm. Nếu sau đó vẫn chưa thở lại được hoặc còn tím tái và hôn mê thì xem như tim đã ngưng đập, cần ấn tim ngoài lồng ngực ngay. Ấn vào vùng nửa dưới xương ức theo cách như sau:
- Dùng 2 ngón tay cái (đối với trẻ dưới 1 tuổi) ấn ở vị trí giữa và dưới đường nối hai đầu vú 1 khoát ngón tay (tức khoảng bằng bề ngang một ngón tay).
Đặt nạn nhân nằm nghiêng
- Dùng 1 bàn tay (đối với trẻ từ 1-8 tuổi) hoặc 2 bàn tay đặt chồng lên nhau (đối với trẻ hơn 8 tuổi và người lớn) ấn vào phía trên mỏm ức 2 khoát ngón tay.
- Phối hợp ấn tim và thổi ngạt theo tỷ lệ 5/1 (đối với trẻ ) hoặc 15/2 (đối với người lớn). Cần lưu ý là vẫn phải tiếp tục thực hiện các động tác cấp cứu này trên đường chuyển người bị nạn tới cơ sở y tế, cho đến khi tự thở lại được hoặc chắc chắn đã chết.- Việc cấp cứu này đôi khi phải mất hàng giờ hoặc lâu hơn. Nếu lồng ngực còn di động tức là còn tự thở được, hãy đặt nằm ở tư thế an toàn, nghĩa là nằm nghiêng một bên để nếu nôn ói thì chất nôn dễ dàng thoát ra ngoài và không trào ngược vào phổi, gây viêm phổi.
Chú ý:
- Không nên cố tìm cách cho nước trong phổi nạn nhân chảy hết ra ngoài bằng cách xốc nước (vác nạn nhân chạy vòng vòng cho nước chảy ra) vì như thế sẽ bỏ lỡ thời gian vàng cho việc làm hồi sức cấp cứu tim phổi mà chỉ cần chậm trễ 4 phút thôi là não có nguy cơ bị chết rồi! Trong quá trình hồi sức cấp cứu tim phổi, nước trong phổi sẽ tự động thoát ra ngoài. Nếu là nước sông, hồ thì nước sẽ thấm vào hệ tuần hoàn rất nhanh do hiện tượng thẩm thấu (nước sông có nồng độ loãng hơn máu).
- Khi làm xoa bóp tim ngoài lồng ngực, cần chú ý không quá mạnh bạo vì có thể làm gãy xương sườn nạn nhân.
Đề phòng:
- Không nên nhảy xuống vùng nước mà không biết nơi đó nông hay sâu, có lối thoát khi gặp nguy hiểm hay không.
- Khi đi bơi nên đi chung với những người bơi giỏi và nên mang theo phao khi đi bơi và đi tàu thuyền.
- Không ăn no, không uống rượu trước khi xuống nước.
- Chỉ đi bơi ở các hồ bơi bảo đảm an toàn và có nhân viên cứu hộ giám sát.
- Trẻ em khi bơi phải được người lớn giám sát thường xuyên và không được rời mắt để làm công việc khác như đọc sách, tán chuyện gẫu, chơi bài…
- Ở nhà có trẻ nhỏ tốt nhất không nên để những lu nước, thùng nước, nếu bắt buộc phải có (như vùng phải tích trữ nước ngọt để dùng) nên đậy thật chặt để trẻ em không mở nắp được.
- Nhà khá giả có hồ bơi nên rào kín xung quanh và cửa có khóa để trẻ em không mở cửa được, có hệ thống báo động khi trẻ em vào.
- Nên cho trẻ tập bơi sớm (trên 4 tuổi).
Tóm lại: chết đuối là một tai nạn thường gặp nhất là nước có nhiều sông rạch và bờ biển dài như ở nước ta. Tuy nhiên tai nạn này có thể phòng chống dễ dàng nếu chúng ta hiểu biết về nó và mạng sống của một người đôi khi phụ thuộc vào vài phút phù du đầu tiên của cấp cứu hối sức ban đầu. (Medic-Lab)
Ngồi máy tính nhiều làm giảm thị lực (83%), tổn hại khớp xương, đau lưng, đau vai (51,1%), đau đầu (56,1%) và chán ăn (54,4%).
Với những người đang hàng ngày làm việc với máy vi tính, những sai lầm về động tác tay khi điều khiển chuột và bàn phí là nguyên nhân gây ra Hội chứng CTS (Hội chứng ống cổ tay (CTS – Carpal Tunnel Sydrome)). Để phòng bệnh, bạn nên sử dụng chuột và bàn phím máy tính theo các chỉ dẫn dưới đây:
Bàn đặt máy vi tính được chia làm 03 vùng
Vùng 1: Khoảng cách từ màn hình đến người sử dụng (~ 60 cm +)
Vùng 2: Khoảng cách từ màn hình đến bàn phím (~ 20 – 50 cm)
Vùng 3: Khoảng cách từ chuột và bàn phím đến người sử dụng (~ 25 cm)
Giáo dục giới tính, blog giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tuổi teen, kỹ năng sống,kỹ năng nghề nghiệp,sức khỏe tình dục, tình dục an toàn