ads
Categories
- Bệnh lây qua đường tình dục (13)
- Để Thành Công (2)
- GDGT (31)
- Khởi Nghiệp (1)
- Kỹ năng (24)
- Sức khỏe (4)
Bài đăng phổ biến
-
Vệ sinh cơ quan sinh dục ở nam giới Để "cậu bé" của bạn sạch sẽ, không mùi khó chịu, khi vệ sinh các đầu đinh đừng bỏ qua 03...
-
Quan hệ tình dục bằng miệng (Oral Sex) Khi chúng tôi quan hệ, bao giờ anh ấy cũng bắt tôi phải dùng miệng, mà tôi thấy như vậy để làm gì...
-
Mỗi XX đều có một vùng kín đặc biệt, khi vào tuổi dậy thì, hình dáng, kích cỡ của chúng phát triển hoàn toàn khác nhau và mang ít nhiều bí h...
-
Vì sao trong thời kỳ có kinh ban đầu, con gái phải chú ý vệ sinh kinh nguyệt? Nói chung, ở con gái khoảng 14 tuổi, cơ quan giới tính bắt đầu...
-
Nếu bạn quyết định đến với sex mà không có bất kỳ một kiến thức nào về nó, tốt hơn hết nên dừng lại. Chỉ nên gật đầu nếm trái ngọt của t...
Mộng tinh có phải là bệnh 0
18:36
Hỏi:
Cháu năm nay 19 tuổi. Khi đi ngủ, trong những giấc mơ về hình ảnh mang tính tình dục và khi mắc tiểu, cháu thường có hiện tượng xuất tinh ướt cả quần, sau đó thì tỉnh giấc. Hiện tượng này khoảng 1 tháng xuất hiện vài lần. Xin bác sĩ giải đáp giùm cháu tại sao lại có hiện tượng đó và nó có ảnh hưởng gì đến sức khỏe không? Cháu cảm ơn bác sĩ.
nguyenvantua...@gmail.com
Ảnh minh hoa
Trả lời:
19 tuổi đang là độ tuổi phát triển nhanh, mạnh về thể chất, đặc biệt là về cơ quan sinh dục và nội tiết sinh dục. Lúc này, bạn cũng chưa có khả năng kìm chế, “làm chủ” cảm xúc. Chính vì thế mà khi ngủ, dù chỉ mơ thấy kích thích bạn đã “không kìm chế được, xả đạn tự do”.
Hiện tượng mộng tinh là hoàn toàn bình thường, không phải bệnh tật gì nên bạn đừng lo lắng quá nhé. Sáng ra bạn nên thay quần, vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sẽ.
Để hạn chế, buổi tối bạn không nên tiếp xúc với các bộ phim, hình ảnh, truyện... có tính “kích thích”. Bởi những nhân tố này không chỉ khiến bạn mơ làm chuyện đó nhiều mà còn dễ làm bạn phân tâm, thậm chí bị ám ảnh, tò mò dẫn đến “thử” thật thì nguy hiểm bạn ạ. Lúc đó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn đấy!
Một khuôn mặt xinh xắn, một dáng hình thon thả và "vòng 3" săn chắc, gợi cảm là điều mơ ước của rất nhiều chị em phụ nữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được "của trời cho" ấy.
Vậy thế nào là một đôi mông đẹp, có tướng cách tốt theo tiêu chuẩn của thuật xem tướng?
Theo quan niệm của nhân tướng học, một đôi mông đúng tướng cách phải lấy tiêu chuẩn bình mãn làm đầu. Bình mãn có nghĩa là mông phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong.
Phụ nữ tướng cách tốt cần có đôi mông tròn, đều đặn, tương xứng với thân mình. Nếu mông quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu đôi mông lép thì đôi chân lại trở nên thiếu cân đối, người đó khó mà an nhàn sung sướng được.
Phụ nữ có đôi mông nhỏ, thường ưa sống nội tâm; tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng; đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Về tình yêu, người này thường dễ rung động nhưng tình duyên không phải lúc nào cũng được suôn sẻ.
Phụ nữ có đôi mông hơi lớn thì tính tình lại độ lượng và hào phóng hơn. Trong chuyện tình cảm, người này yêu hết lòng và dám hi sinh tất cả vì người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi cũng vì bản tính này mà họ dễ bị dụ dỗ, lừa gạt. Cuộc sống của người này khá suôn sẻ, đủ ăn đủ mặc, không có gì phải lo lắng.
Tướng người phụ nữ nhỏ bé mà cũng không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản.
Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều. Đàn ông da mông nên có màu nâu mới khỏe mạnh, nếu nam mà mông trắng bệch thì tính cách mềm yếu, nhu nhược như đàn bà. Nhưng phụ nữ thì da mông phải thật trắng hồng mới đầy đủ nữ tính.
Sưu tầm
Vậy thế nào là một đôi mông đẹp, có tướng cách tốt theo tiêu chuẩn của thuật xem tướng?
Theo quan niệm của nhân tướng học, một đôi mông đúng tướng cách phải lấy tiêu chuẩn bình mãn làm đầu. Bình mãn có nghĩa là mông phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong.
Phụ nữ tướng cách tốt cần có đôi mông tròn, đều đặn, tương xứng với thân mình. Nếu mông quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu đôi mông lép thì đôi chân lại trở nên thiếu cân đối, người đó khó mà an nhàn sung sướng được.
Phụ nữ có đôi mông nhỏ, thường ưa sống nội tâm; tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng; đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Về tình yêu, người này thường dễ rung động nhưng tình duyên không phải lúc nào cũng được suôn sẻ.
Phụ nữ có đôi mông hơi lớn thì tính tình lại độ lượng và hào phóng hơn. Trong chuyện tình cảm, người này yêu hết lòng và dám hi sinh tất cả vì người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi cũng vì bản tính này mà họ dễ bị dụ dỗ, lừa gạt. Cuộc sống của người này khá suôn sẻ, đủ ăn đủ mặc, không có gì phải lo lắng.
Tướng người phụ nữ nhỏ bé mà cũng không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản.
Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều. Đàn ông da mông nên có màu nâu mới khỏe mạnh, nếu nam mà mông trắng bệch thì tính cách mềm yếu, nhu nhược như đàn bà. Nhưng phụ nữ thì da mông phải thật trắng hồng mới đầy đủ nữ tính.
Sưu tầm
Chết đuối là tình trạng thiếu oxy do cơ thể bị chìm trong nước. Người ta thống kê thấy khoảng 4/5 trường hợp chết đuối mà trong phổi có nước và 1/5 còn lại chết đuối nhưng phổi không có nước. Người bị chìm trong nước nhưng không bị ngạt được cứu tỉnh kịp thời thì được gọi là suýt chết đuối.
Sở dĩ có tình trạng chết đuối mà trong phổi không có nước là do người không biết bơi bất ngờ bị chìm trong nước, nạn nhân hoảng sợ khiến các phản xạ bị rối loạn làm cơ thể bị chìm, phản xạ co cơ nắp thanh quản và đóng khí quản lại làm nạn nhân không thở được dẫn đến thiếu oxy não và bất tỉnh. Do nắp thanh quản bị đóng nên nước cũng không vào phổi được. Đó cũng được gọi là chết đuối khô.
Cấp cứu nạn nhân chết đuối:
- Khi thấy một người đang hốt hoảng trên mặt nước hãy nhanh chóng thảy cho họ bất cứ thứ gì có thể giúp họ bám vào và nổi lên được. Nếu chỉ có một mình và 2 tay không, nếu không phải là một nhân viên cấp cứu nhiều kinh nghiệm thì bơi ra cứu nạn nhân là điều rất mạo hiểm dù là một tay bơi giỏi vì trong cơn hoảng loạn cực độ, nạn nhân thường có khuynh hướng vùng vẫy, níu kéo rất chặt gây khó khăn cho người cấp cứu và có nguy cơ làm chết đuối luôn cả hai. Nên ném cho nạn nhân một phao nổi trước cho nạn nhân bám vào, sau đó mới cho nạn nhân bám vào ngưới cứu hộ.
- Sau khi đem nạn nhân lên bờ, hãy nhanh chóng gọi điện thoại số cấp cứu 115 và tiến hành làm hô hấp nhân tạo bằng phương pháp miệng qua miệng vì đó là phương pháp hữu hiệu nhất. Não người sẽ bị tổn thương hoặc chết nếu nạn nhân ngưng thở từ 4-6 phút.
Với ngạt nước, sơ cứu tại chỗ và đúng kỹ thuật là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến sự sống còn và khả năng bị di chứng não của người bị nạn.
- Trường hợp nạn nhân đã ngừng thở, ngừng tim thì nhanh chóng dốc ngược đầu nạn nhân cho nước trong đường thở thoát ra hết; sau đó đặt nạn nhân trên mặt phẳng cứng, ngửa cổ nạn nhân ra sau, móc hết đàm nhớt, dị vật trong miệng nạn nhân ra, một tay đặt lên trán nạn nhân, bịt mũi nạn nhân bằng bằng ngón trỏ và ngón cái, sau đó hít sâu, áp miệng người cấp cứu vào miệng nạn nhân thổi 2 hơi đầy; để lồng ngực tự xẹp và thổi tiếp lần thứ hai. Thực hiện cho đến khi nạn nhân thở được hoặc có xe cấp cứu đến.Nếu nạn nhân bị ngưng tim nên tiến hành xoa bóp tim ngoài lồng ngực song song với hô hấp nhân tạo.
- Đặt người bị nạn nằm ở chỗ khô ráo, thoáng khí. Nếu bất tỉnh, hãy kiểm tra xem có còn thở không bằng cách quan sát sự di động của lồng ngực. Nếu lồng ngực không di động tức là đã ngưng thở; thổi ngạt miệng qua miệng 2 cái chậm. Nếu sau đó vẫn chưa thở lại được hoặc còn tím tái và hôn mê thì xem như tim đã ngưng đập, cần ấn tim ngoài lồng ngực ngay. Ấn vào vùng nửa dưới xương ức theo cách như sau:
- Dùng 2 ngón tay cái (đối với trẻ dưới 1 tuổi) ấn ở vị trí giữa và dưới đường nối hai đầu vú 1 khoát ngón tay (tức khoảng bằng bề ngang một ngón tay).
Đặt nạn nhân nằm nghiêng
- Dùng 1 bàn tay (đối với trẻ từ 1-8 tuổi) hoặc 2 bàn tay đặt chồng lên nhau (đối với trẻ hơn 8 tuổi và người lớn) ấn vào phía trên mỏm ức 2 khoát ngón tay.
- Phối hợp ấn tim và thổi ngạt theo tỷ lệ 5/1 (đối với trẻ ) hoặc 15/2 (đối với người lớn). Cần lưu ý là vẫn phải tiếp tục thực hiện các động tác cấp cứu này trên đường chuyển người bị nạn tới cơ sở y tế, cho đến khi tự thở lại được hoặc chắc chắn đã chết.- Việc cấp cứu này đôi khi phải mất hàng giờ hoặc lâu hơn. Nếu lồng ngực còn di động tức là còn tự thở được, hãy đặt nằm ở tư thế an toàn, nghĩa là nằm nghiêng một bên để nếu nôn ói thì chất nôn dễ dàng thoát ra ngoài và không trào ngược vào phổi, gây viêm phổi.
Chú ý:
- Không nên cố tìm cách cho nước trong phổi nạn nhân chảy hết ra ngoài bằng cách xốc nước (vác nạn nhân chạy vòng vòng cho nước chảy ra) vì như thế sẽ bỏ lỡ thời gian vàng cho việc làm hồi sức cấp cứu tim phổi mà chỉ cần chậm trễ 4 phút thôi là não có nguy cơ bị chết rồi! Trong quá trình hồi sức cấp cứu tim phổi, nước trong phổi sẽ tự động thoát ra ngoài. Nếu là nước sông, hồ thì nước sẽ thấm vào hệ tuần hoàn rất nhanh do hiện tượng thẩm thấu (nước sông có nồng độ loãng hơn máu).
- Khi làm xoa bóp tim ngoài lồng ngực, cần chú ý không quá mạnh bạo vì có thể làm gãy xương sườn nạn nhân.
Đề phòng:
- Không nên nhảy xuống vùng nước mà không biết nơi đó nông hay sâu, có lối thoát khi gặp nguy hiểm hay không.
- Khi đi bơi nên đi chung với những người bơi giỏi và nên mang theo phao khi đi bơi và đi tàu thuyền.
- Không ăn no, không uống rượu trước khi xuống nước.
- Chỉ đi bơi ở các hồ bơi bảo đảm an toàn và có nhân viên cứu hộ giám sát.
- Trẻ em khi bơi phải được người lớn giám sát thường xuyên và không được rời mắt để làm công việc khác như đọc sách, tán chuyện gẫu, chơi bài…
- Ở nhà có trẻ nhỏ tốt nhất không nên để những lu nước, thùng nước, nếu bắt buộc phải có (như vùng phải tích trữ nước ngọt để dùng) nên đậy thật chặt để trẻ em không mở nắp được.
- Nhà khá giả có hồ bơi nên rào kín xung quanh và cửa có khóa để trẻ em không mở cửa được, có hệ thống báo động khi trẻ em vào.
- Nên cho trẻ tập bơi sớm (trên 4 tuổi).
Tóm lại: chết đuối là một tai nạn thường gặp nhất là nước có nhiều sông rạch và bờ biển dài như ở nước ta. Tuy nhiên tai nạn này có thể phòng chống dễ dàng nếu chúng ta hiểu biết về nó và mạng sống của một người đôi khi phụ thuộc vào vài phút phù du đầu tiên của cấp cứu hối sức ban đầu. (Medic-Lab)
Lưu ý khi làm việc với máy tính
Ngồi máy tính nhiều làm giảm thị lực (83%), tổn hại khớp xương, đau lưng, đau vai (51,1%), đau đầu (56,1%) và chán ăn (54,4%).
Với những người đang hàng ngày làm việc với máy vi tính, những sai lầm về động tác tay khi điều khiển chuột và bàn phí là nguyên nhân gây ra Hội chứng CTS (Hội chứng ống cổ tay (CTS – Carpal Tunnel Sydrome)). Để phòng bệnh, bạn nên sử dụng chuột và bàn phím máy tính theo các chỉ dẫn dưới đây:
Bàn đặt máy vi tính được chia làm 03 vùng
Vùng 1: Khoảng cách từ màn hình đến người sử dụng (~ 60 cm +)
Vùng 2: Khoảng cách từ màn hình đến bàn phím (~ 20 – 50 cm)
Vùng 3: Khoảng cách từ chuột và bàn phím đến người sử dụng (~ 25 cm)
Vùng 2: Khoảng cách từ màn hình đến bàn phím (~ 20 – 50 cm)
Vùng 3: Khoảng cách từ chuột và bàn phím đến người sử dụng (~ 25 cm)
Bạn bị rơi xuống nước cùng với những người khác hay bạn chủ động xuống cứu người đuối nước cũng cần phải lưu ý.
Người sắp chết đuối thường rất hoảng loạn nên có một ý chí giành giật mạng sống vô cùng quyết liệt, do đó họ vùng vẫy với một sức mạnh ghê gớm và ôm cứng tất cả những gì có trong tầm tay, nhất là khi thấy có người cứu hộ xuất hiện, họ liền tìm cách ôm chặt lấy. Vì thế, việc cứu hộ sẽ vô cùng nan giải. Phải xác định là có đủ khả năng khống chế được nạn nhân, lúc ấy mới tiếp cận nạn nhân, nếu không cả hai sẽ bị nguy hiểm tới tính mạng.
Vì vậy, khi bơi đến gần nạn nhân, hãy lặn xuống, vòng ra phía sau lưng nạn nhân, cầm 2 chân người bị nạn đẩy trồi lên và trôi vào bờ. Nếu hết hơi, ta bơi lùi ra một chút, trồi lên lấy hơi rồi lại tiếp tục.
Khi bị nạn nhân nắm cổ tay:
Xoay cho một cạnh của cổ tay về phía tiếp xúc giữa ngón cái và bốn ngón còn lại của nạn nhân. Sau đó giựt mạnh, cổ tay ta sẽ tuột ra khỏi bàn tay nắm của nạn nhân.
Khi bị nạn nhân nắm một chân:
Co chân bị nắm lại, dùng chân kia đạp mạnh vào cằm của nạn nhân. Ngay lập tức nạn nhân sẽ buông tay ra.
Khi bị nạn nhân bấu chặt lấy cổ:
Hít một hơi thật dài và lặn xuống sâu thêm cho họ buông ra. Nếu nạn nhân không chịu buông, ta chắp hai tay lại như tư thế cầu nguyện, rồi hất bung lên cao.
hoặc luồn hai tay của ta vào trong hai tay của nạn nhân, dùng hết sức một tay thì tống vào cằm của nạn nhân, một tay thì xô mạnh tay của nạn nhân cho tuột ra, rồi nắm lấy cổ tay của họ, vừa trấn an vừa bơi đưa vào bờ.Click vào đây để xem hình ảnh ban đầu của 800 267 pxx
Khi bị nạn nhân ôm chặt từ phía sau:
Lần tìm đến ngón út của nạn nhân và bẻ ngược mạnh về phía sau, nạn nhân sẽ buông ra ngay tức khắc.
Ảnh: jupiterimages.com |
Bỏng
là một tai nạn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Ở nước ta, khoảng
1/2 số trường hợp bỏng là các trẻ nhỏ do gia đình không trông nom cẩn
thận, sơ xuất để các cháu đến gần bếp lửa, thức ăn nóng, đèn dầu, đồ
điện... Ở người lớn, tai nạn bỏng gặp khi hỏa hoạn, bỏng điện...
Vấn
đề dự phòng các tai nạn gây bỏng, hạn chế các điều kiện xảy ra cháy nổ,
biết cách xử trí sớm và đúng là một vấn đề cấp thiết mà mỗi người, mỗi
gia đình và các tập thể cần biết khi tai nạn bỏng xảy ra.
|
Khi bị bỏng do bất kỳ tác nhân nào, không xử trí hoặc bôi các thứ không cần thiết lên vết bỏng (thuốc đánh răng, mỡ trăn, nước mắm, xát muối, thuốc nước lá cây không rõ nguồn gốc...). Những điều này làm khó khăn cho điều trị và có thể gây nhiễm khuẩn thêm. Kinh nghiệm cho thấy cách xử trí sớm và đúng với các nạn nhân bị bỏng rất quan trọng, làm giảm nhẹ tổn thương, làm giảm đau đớn, phòng chống sốc bỏng. Đặc biệt với các tổn thương như bỏng đường hô hấp, bỏng mắt..., xử trí ban đầu là rất quan trọng để việc điều trị, dự phòng bệnh bỏng và tổn thương bỏng ở các cơ sở điều trị được thuận lợi và có kết quả hơn.
Những việc cần làm để dự phòng tai nạn gây bỏng
Trong gia đình: Đối với trẻ nhỏ và người già chúng ta phải quan tâm nhiều đến việc này, nhất là các gia đình ở nông thôn. Tránh cho các cháu nhỏ đến gần bếp lửa, gần than củi đốt, gần các thức ăn nóng như nồi canh, nồi cám lợn..., gần đèn dầu, gần các đồ điện như bàn là, bếp điện và bật lửa, diêm... Tất cả đồ vật dễ gây cháy nổ, bỏng phải để xa tầm tay trẻ em. Trong mỗi gia đình phải sẵn sàng các túi cấp cứu trong hộp thuốc, tủ thuốc bao gồm bông gạc băng và thuốc oresol...
Trong mỗi tập thể cũng phải có ý thức phòng chống tai nạn bỏng cho các thành viên, đặc biệt là cơ sở có liên quan đến chất cháy nổ, cơ sở có đường dây điện dễ bị chập, bị hở. Khi lao động phải nghiêm túc thực hiện các chỉ tiêu an toàn chống tai nạn lao động trong đó có cháy nổ. Từng người phải có ý thức để không xảy ra các tai nạn, đặc biệt là lao động tại các hầm lò
Xử trí ban đầu khi bị bỏng
Tùy từng loại mà ta có cách xử trí ban đầu nhằm mục đích giảm nhẹ tổn thương bỏng, giảm đau, phòng chống sốc bỏng và các biến chứng của sốc bỏng, của tổn thương bỏng và bệnh bỏng bao gồm các bước:
- Bình tĩnh: Dập tắt lửa cháy, cắt cầu chì, nguồn điện, cởi bỏ quần áo cháy trên cơ thể... bằng cách vượt ra khỏi đám cháy, tránh hít khói, lửa cháy, đến nơi an toàn, thoáng khí, sạch sẽ. Biết cách tự làm hạn chế tổn thương bỏng cả về diện tích bỏng và độ sâu của vết thương bỏng.
Nếu gần một nguồn nước sạch, lạnh thì cách tốt nhất là ngâm toàn chi bị bỏng trong nước sạch lạnh, làm cho nhiệt độ dưới da bỏng hạ thấp, giảm đau, giảm phản ứng viêm nề, giảm thoát dịch huyết tương. Đây là một cách xử trí bỏng ban đầu rất tốt. Các công trình khoa học đã chứng minh tác dụng giảm đau, ức chế tính thấm thành mao mạch, giảm phù nề bỏng của nước sạch lạnh. Nhưng việc ngâm vùng bị bỏng trong nước sạch lạnh phải được thực hiện trong 30 phút đầu tiên (nhất là trong 10 phút đầu tiên) thì mới có kết quả tốt.
Sau khi đã ngâm lạnh vùng bị bỏng thì dội nước sạch lạnh lên vùng bị bỏng để rửa sạch vết bỏng rồi dùng gạc miếng sạch phủ lên mặt vết thương bỏng, dùng bông che phủ để giảm đau đớn và băng ép chặt vừa phải vết bỏng. Việc băng ép vừa phải có tác dụng ngăn ngừa sự thoát dịch qua các thành mạch ra các vùng bị tổn thương bỏng (dịch phù nề bỏng). Cách này phải tiến hành sớm, ép vừa phải để còn lưu thông các mạch máu, không cần băng ban đầu nếu bỏng vùng mặt, vùng tầng sinh môn, vùng hoại tử bỏng, vùng bỏng độ 1.
Cho bệnh nhân bị bỏng uống nước oresol hoặc nước chè đường, hoặc uống dung dịch pha: muối ăn 4g và natri bicarbonat 2g trong 1 lít nước uống.
Để nạn nhân ở chỗ yên tĩnh, sạch sẽ, thoáng khí có đủ không khí sạch để thở (nhất là bị đám bỏng lửa cháy thì hít thở phải nhiều khí có oxycacbon). Vận chuyển nạn nhân về các cơ sở điều trị. Trong quá trình xử trí ban đầu phải sơ bộ ước tính diện tích bỏng, độ sâu của bỏng, nạn nhân có bị các tổn thương bỏng đường hô hấp, bị nhiễm độc phải khí của vụ cháy không. Phải khám nhanh trạng thái hô hấp, trạng thái tim mạch và xem nạn nhân có bị tổn thương cơ học khác kết hợp không, ghi kết quả khám xét này vào phiếu của người bệnh và chuyển về tuyến điều trị cho an toàn, tránh sốc và lạnh cho nạn nhân.
Sơ cứu các chấn thương thường gặp tại gia đình
Các
tai nạn thường gặp trong gia đình như bỏng, vết thương chảy
máu, trật khớp, bong gân,…nếu biết cách sơ cấp cứu ban đầu
chúng ta có thể hạn chế các tổn thương do tai nạn, thậm chí
có thể cứu sống người bị nạn.
Một số các chấn thương thường gặp tại gia đình và cách xử lý như sau:
1. Sơ cứu bỏng
* Các nguyên nhân gây ra bỏng: bỏng là tai nạn thường gặp trong sinh hoạt hàng ngày do các nguyên nhân:
- Bỏng
do nhiệt bao gồm nhiệt khô và nhiệt ướt. Bỏng do nhiệt khô
xuất phát từ bàn là, bô xe máy, cháy nổ bình gas, hoả hoạn...Bỏng
do nhiệt ướt có nguyên nhân từ: nước sôi, canh sôi, hơi nước nóng...
- Bỏng điện: điện sinh họat, điện công nghiệp
- Bỏng hoá chất: bỏng do vôi tôi, hoá chất sinh hoạt, hoá chất công nghiệp
- Bỏng do tia bức xạ: mặt trời, tia laser
- Vết thương bỏng có thể làm chết người hoặc để lại những di chứng nặng nề.
* Nhận biết bỏng bằng cách: Bỏng được chia làm 3 độ, độ càng tăng thì tổn thương do bỏng càng nhiều.
- Độ I: Bỏng bề mặt. Trường hợp này chỉ lớp da ngoài cùng bị tổn thương.
- Độ II:
Bỏng một phần da. Trường hợp này thì sẽ xuất hiện các bóng nước, nếu
vết bỏng được giữ không bị nhiễm trùng thì có thể lành mà không để lại
sẹo.
- Độ III:
Bỏng toàn bộ các lớp da. Toàn bộ các lớp da đều bị tổn thương bao gồm
cả lỗ chân lông và tuyến mồ hôi. Khi bị bỏng toàn bộ các lớp của da thì
vết bỏng rất dễ bị nhiễm trùng, thời gian lành lâu và sẽ để lại sẹo.
Hình 1 : Cần sơ cứu nhanh khi bị bỏng
Khi gặp
trường hợp bị bỏng, tùy theo nguyên nhân mà chúng ta xử trí. Nên lưu ý
trong những trường hợp phức tạp, chúng ta cần bình tĩnh xem xét một cách
tổng quát, để giúp đỡ nạn nhân tốt nhất và tránh trường hợp khiến mình
trở thành nạn nhân. Đảm bảo hiện trường an toàn cho người cấp cứu và nạn
nhân, đặc biệt khi nguyên nhân bỏng là do: hóa chất, phóng xạ, cháy
nổ...
Sau đó,
chúng ta tiến hành sơ cứu theo thứ tự ưu tiên: nếu nạn nhân có vấn đề về
đường thở, chấn thương cột sống, chảy máu cần phải tiến hành xử trí
trước. Nếu nạn nhân còn tỉnh, cần nhanh chóng bù nước bằng đường uống.
Tiến hành xử trí vết thương nhanh chóng, nhẹ nhàng tránh đau cho nạn
nhân. Xử trí bỏng theo nguyên nhân gây ra.
Bỏng do
nhiệt là loại bỏng thường gặp nhất, chiếm từ 60 đến 75% các loại bỏng,
nguyên nhân do lửa, nước sôi, tiếp xúc vật nóng. Chúng ta tiến hành tuần
tự các bước dưới đây:
- Bước 1:
Loại bỏ nguyên nhân gây bỏng càng sớm càng tốt như dập lửa, cởi bỏ quần
áo đang cháy hoặc ngấm nước sôi, tách nạn nhân khỏi vật nóng...
- Bước 2:
Do việc sử dụng nước sạch để làm mát vùng bỏng chỉ có giá trị trong
khoảng 30 phút đầu sau khi bị bỏng nên cần nhanh chóng ngâm vùng cơ thể
bị bỏng vào nước mát. Đây là biện pháp đơn giản nhưng khá quan trọng
trong sơ cấp cứu bỏng ban đầu. Nếu không thể ngâm cơ thể vào nước mát
được, có thể dùng cách dội nước mát, hoặc đắp khăn mát lên vùng bị bỏng,
tiến hành khoảng 15 đến 20 phút. Nếu mùa đông cần giữ ấm các phần khác
của cơ thể.
- Bước 3: Đưa nạn nhân đến cơ sở y tế để điều trị.
Cần lưu
ý da có xu hướng giữ nhiệt làm cho vết thương trở nên nặng nề hơn. Do
đó nguyên tắc quan trọng trong xử trí bỏng là làm mát ngay vùng da bị
bỏng.
* Những điều nào KHÔNG NÊN làm?
- Không dùng nước quá lạnh hoặc đá chườm vào vết bỏng.
- Không làm tổn thương các nốt phỏng vì có nguy cơ gây nhiễm trùng về sau
- Không bôi những chất kem hoặc chất nhờn lên chỗ bỏng
- Nếu bỏng mắt, không được dụi mắt. Không cần cố gắng lấy dị vật ra khỏi chỗ bỏng
* Phòng ngừa bỏng bằng cách nào?
- Xắp
sếp bố trí ngăn nắp đồ dùng, sinh hoạt trong gia đình, trong bếp như:
phích nước, nồi canh, cơm nóng... ở những nơi an toàn để tránh nguy cơ
bị hoả hoạn, cháy, nổ, điện giật... gây bỏng.
- Quản lý, sử dụng các hoá chất sinh hoạt, chất tẩy rửa, hoá chất công nghiệp đúng quy định, an toàn
2. Vết thương chảy máu
* Nguyên nhân nào thường gặp gây vết thương chảy máu?
Vết
thương chảy máu có thể gặp do tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai
nạn trong sinh hoạt¼Các vật sắc nhọn đâm vào da, phần mềm, xương bị gãy
đâm ra ngoài làm rách da, phần mềm, rách, đứt mạch máu. Đứt dập nát chân
tay.
* Dấu hiệu nào nhận biết vết thương chảy máu?
Khi bị vết thương chảy máu, nạn nhân sẽ có những dấu hiệu nhận biết sau:
- Rách da, phần mềm.
- Dập nát da, phần mềm
- Máu chảy từ vết thương ra ngoài da
- Dấu hiệu toàn thân: vã mồ hôi, lạnh run, da xanh tái,¼
- Vết thương gây chảy máu nếu mất máu nhiều sẽ dẫn đến choáng/sốc, bất tỉnh, tử vong
* Làm gì khi gặp trường hợp vết thương chảy máu?
+ Vết thương chảy máu nhiều không có dị vật
Nếu gặp vết thương đang chảy máu không có dị vật, ta tiến hành sơ cứu như sau:
- Đeo găng tay cao su, nilon và vật dụng thay thế
- Dùng gạc, vải sạch, ép trực tiếp lên vết thương và giữ chặt để cầm máu
- Băng ép trực tiếp tại vết thương
- Kê cao chân, ủ ấm để phòng choáng
- Đỡ nạn nhân nằm để làm giảm lượng máu chảy đến các vết thương
- Kiểm tra đầu chi sau khi băng
- Nếu máu vẫn chảy thấm qua băng thì băng chồng lên bằng băng khác
Hình 2 : Xử lý cầm máu và tránh nhiễm trùng vết thương
+ Vết thương chảy máu nhiều có dị vật
Đối với vết thương chảy máu có dị vật thì ta xử lý theo hướng dẫn dưới đây:
- Không rút dị vật
- Mang găng tay
- Ép chặt mép vết thương
- Chèn băng, gạc quanh dị vật và băng cố định (không băng trùm qua dị vật)
- Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất.
+ Vết thương dập nát, đứt chi
Với loại vết thương này, chúng ta tiến hành sơ cứu như sau:
- Garo cầm máu cách trên vết thương 3-5 cm
- Xoắn garo từ từ cho đến khi máu hết chảy
- Cho nạn nhân nằm đầu thấp, chân cao
- Ủ ấm cho nạn nhân
- Ghi nhận rõ giờ làm garo. Nới garo mỗi 15 phút
- Vận chuyển vào bệnh viện
Hình 3 : Sơ cấp cứu đúng cách sẽ giúp hạn chế thương vong cho nạn nhân
* Những điều nào KHÔNG NÊN làm?
Khi sơ cứu chúng ta nhớ không nên làm những điều dưới đây:
- Không làm garo nếu không phải là vết thương dập nát hoặc đứt lìa, chảy nhiều máu
- Không
nên vận chuyển nạn nhân mà nên sơ cứu tại chỗ. Chỉ nên vận chuyển nạn
nhân ra khỏi hiện trường khi hiện trường không an toàn
- Không được tự ý rút dị vật trong vết thương ra ngoài.
* Phòng ngừa vết thương chảy máu bằng cách nào?
- An toàn trong lao động và sinh hoạt
- Không cho trẻ em chơi các vật sắc, nhọn
3. Sơ cứu bong gân, trật khớp
* Nguyên nhân nào dẫn đến bong gân, trật khớp?
Những
nguyên nhân dẫn đến bong gân, trật khớp là do: tai nạn lao động, tai nạn
sinh hoạt, tai nạn giao thông, tai nạn thể thao...
* Dấu hiệu của bong gân là gì?
Khi bị bong gân, chúng ta sẽ có những biểu hiện sau:
- Đau, hạn chế cử động
- Sưng, phù nề
- Bầm tím
- Biến dạng
* Sơ cứu bong gân ra sao?
- Hạn chế cử động chỗ bong gân
- Băng, ép nhẹ vùng bong gân
- Chườm đá vùng tổn thương
- Sau khi băng, hỏi nạn nhân có tê các đầu chi không. Xem các đầu chi có tái nhợt không, nếu có thì băng lỏng hơn
- Tập vận động ngay sau khi bớt đau. Trường hợp nặng cần đến bệnh viện để xử lí.
Hình 4 : Bong gân
* Trật khớp có dấu hiệu gì?
Nếu khớp bị trật thì sẽ có các biểu hiện:
- Đau, không cử động được
- Sưng, phù nề
- Bầm tím
- Biến dạng khớp
* Khi bị trật khớp, cần sơ cứu như thế nào cho nạn nhân?
- Không cử động khớp bị trật
- Chườm lạnh vùng tổn thương
- Cố định khớp ở tư thế mà khớp đang ở vị trí sai lệch
- Trật khớp vùng tay có thể cố định bằng cách cột tay vào thân người, dùng chính thân người làm vật cố định nâng đỡ cho tay
- Đưa nạn nhân đến bệnh viện.
* Những gì chúng ta KHÔNG NÊN làm cho nạn nhân?
Không nên thoa bóp dầu nóng và không nên cố gắng nắn khớp.
* Phòng ngừa chấn thương bong gân, trật khớp như thế nào?
Để phòng chấn thương gây bong gân, trật khớp, chúng ta cần thực hiện các cách sau:
- Chấp hành đúng các quy trình bảo hộ lao động, an toàn giao thông
- Không cho trẻ leo, trèo cao
- Làm tay vịn cầu thang và có đèn chiếu sáng tại các bậc thang, cầu thang trong nhà.
Quỳnh Như
(Trích nguồn T4G TP.HCM)
Tài trợ
Giáo dục giới tính, blog giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tuổi teen, kỹ năng sống,kỹ năng nghề nghiệp,sức khỏe tình dục, tình dục an toàn
Blogroll
Được tạo bởi Blogger.
2008 - 2009 SimplexDesign. Content in my blog is licensed under a Creative Commons License.
- GDGT template designed by Blog Giáo duc Giới Tính.
- Powered by Blogger.com.